TỪ NGUỒN GỐC NGHỆ THUẬT TUỒNG NGHĨ VỀ SỰ DUNG NẠP VĂN HÓA CỦA NGƯỜI VIỆT.

TỪ NGUỒN GỐC NGHỆ THUẬT TUỒNG NGHĨ VỀ SỰ DUNG NẠP VĂN HÓA CỦA NGƯỜI VIỆT.

Trong ba bộ môn nghệ thuật truyền thống nổi bật của Việt Nam là Tuồng , Chèo, Cải Lương thì Tuồng là bộ môn có nhiều tranh luận về nguồn gốc xuất xứ nhất .

Như chúng ta đều biết để kết luận bất cứ vấn đề gì là đúng hay sai, có sức thuyết phục đa số hay không , nhất là những vấn đề rộng lớn và phức tạp như văn hóa , nghệ thuật , lịch sử là một việc không đơn thuần .Chí ít anh phải đưa ra được lý lẽ, lập luận , chứng cứ xác thực , tư liệu lịch sử v.v.để chứng minh rồi đi đến kết luận .

Đối với nghệ thuật Tuồng chúng ta thử tìm hiểu xem nguồn gốc từ đâu .Theo tư liệu ghi chép trong lịch sử vào thời Tiền Lê” Lê Hoàn ” năm 1005 một kép hát người Hoa tên là Liêu Thủ Tâm đến Hoa Lư và trình bày lối hát xướng thịnh hành bên nhà Tống và được vua Lê Long Đĩnh thâu dụng bổ là phường trưởng dạy cung nữ ca hát trong cung .Sang thời nhà Trần , Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn bắt được một tên lính nhà Nguyên tên là Lý Nguyên Cát vốn là kép hát .Hưng Đạo tha tội chết cho Cát và sai dạy hát cho binh sỹ .Cát cho diễn vở Vương Mẫu Hiến Đào để vua ngự lãm và các triều thần xem .Ai cũng cho là hay .Các vai diễn cũng theo sự kiện này lần đầu được ghi nhận như đán nương “đào”, quan nhân “kép” châu tử “tướng “, sửu nô ” Hề” .Đến thời hậu Lê ” Lê Lợi” thế kỷ 15 triều đình xếp những người làm nghề ca hát là loại xướng ca vô loài , một thành phần thấp kém nhất trong xã hội cùng với phận tôi đòi con ở .Vấn đề này còn được quy định trong bộ luật Hồng Đức nổi tiếng lúc bấy giờ .Điều luật quy đinh con cái của phường hát không được thi cử, làm quan .Việc này vô hình chung bỏ sót rất nhiều người tài vì không được thi thố bổ nhiệm .Hệ lụy của nó là nghệ thuật ca hát cũng không phát triển được .Cuối thế kỷ 16 ,đầu thế kỷ 17 xảy ra Trịnh Nguyễn phân tranh mỗi bên hùng cứ một phương .Chúa Trịnh vua Lê ở đàng ngoài , chúa Nguyễn ở đàng trong .Đào Duy Từ một nho sinh vùng Tĩnh Gia Thanh Hóa vốn nhà con hát nên phải đổi họ đi thi .Khi có kết quả đỗ á khôi, nhưng phát hiện gian lận họ tên nên bị đánh trượt.Nghe nói chúa Nguyễn đàng trong trọng dụng hiền tài nên ông khăn gói vào Nam để mưu sinh, tạm cư ở vùng Bình Định bây giờ .Sau tiếng lành đồn xa về tài nghệ của ông đã đến tai chúa Nguyễn .Từ đây ông được chúa Nguyễn thu nạp, giao nhiều trọng trách của triều đình .Ở lĩnh vực ca hát ông đã đem bộ môn ca hát phổ biến ở Đàng ngoài_ nghệ thuật Tuồng nhưng bị cấm vào dâng lên chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên .Tại đây nghệ thuật tuồng đã được các chúa Nguyễn tán thưởng ,tạo điều kiện để Đào Duy Từ phổ biến nhân rộng từ cung đình cho đến các vùng xứ đàng trong .Đào Duy Từ không chỉ có công gieo mầm vun đắp cho sự phát triển bộ môn này ở đàng trong , mà bản thân ông còn đóng góp nhiều vai trò thiết thực cụ thể cho Tuồng như dàn dựng , sáng tác kịch bản , nhiều ý kiến cho rằng ông là tác giả tuồng Sơn Hậu , ông còn truyền dạy cho nhiều nghệ nhân mà sau này trở thành những soạn giả nhà nghiên cứu tuồng nổi tiếng thế kỷ 17 ,18, .Cuối thế kỷ 17 nhà Thanh đã dần chiếm quyền lật đổ nhà Minh bên Trung Quốc .Lúc này một loạt các tướng lĩnh, và lực lượng cựu thần nhà Minh chống lại nhà Thanh tản mát khắp nơi .Đông Nam Á là địa bàn quan quân nhà Minh dạt xuống lánh lạn khá đông .Vùng Tây nam bộ từ Cần Thơ ra đến Phú Quốc lúc bấy giờ là rừng rậm , ngập nước ,rất ít người ở là một địa điểm để tàn quân nhà Minh tìm đến .Mạc Cửu là tướng cầm đầu chiếm giữ vùng đất này hùng cứ một phương .Song do lực mỏng lại bị triều đình Cam Phu Chia và Xiêm La lúc bấy giờ o ép .Vì vậy Mạc Cửu muốn dựa vào một thế lực manh hơn là Chúa Nguyễn lúc này đã vươn tay quản lý một vùng lãnh thổ đến tận vùng Biên Hòa Đồng Nai Bến Nghé .Mạc cửu đã dâng sớ lên Chúa Nguyễn xin dâng toàn bộ vùng đất mình đang kiểm soát kể cả đảo Phú Quốc cho Chúa Nguyễn .Từ đây Mạc Cửu trở thành một thuộc hạ của chúa Nguyễn và toàn bộ vùng đất này sáp nhập vào lãnh thổ đàng trong .Cư dân ban đầu vùng Nam bộ là người Việt do chúa Nguyễn điều động vào khai hoang lập ấp , người Hoa chạy loạn sang gồm đôi quân đi theo Mạc Cửu , và một lượng lớn lưu dân vùng Quảng Đông Trung Quốc bỏ chạy xin chúa Nguyễn cho làm ăn sinh sống tại xứ Biên Hòa Sài Gòn trước đó .Những lưu dân này đến vùng đất mới họ mang theo cả vốn liếng làm ăn, mang theo cả phong tục tập quán , trong đó có kinh kịch hay còn gọi Hý kịch .Một cộng đồng dân cư đa sắc tộc ,Việt , Hoa, Khơ Me , Chăm …cùng sinh sống trên một vùng đất mới .Bộ môn nghệ thuật tuồng mà Đào Duy Từ mang vào Nam nay đã phát triển mạnh mẽ , lại gặp Kinh kịch của người Hoa đã có sự gặp nhau giao thoa và tiếp biến lẫn nhau .Sự ảnh hưởng tích cực này là một quá trình tự nhiên từ nhiều khía cạnh .Từ kịch bản , trình thức biểu diễn , trang phục , hóa trang v.v..Dù vậy Hý Kịch không phải văn hóa bản địa của vùng đất này , nay lại ngày một xa rời đất mẹ của nó và theo thời gian nên ngày càng mờ nhạt và bị văn hóa của người bản địa chi phối .Vì vậy nghệ thuật tuồng của người Việt vừa có nhiều điểm giống kinh kịch của Trung Quốc , vừa có nhiều điểm khác là một chuyện hiển nhiên .

Chúng ta không nên quá cực đoan chứng minh tuồng có nguồn gốc từ đâu để khẳng định là của Việt Nam hay Trung Quốc .Mà chúng ta cũng hiểu rằng giao thoa và tiếp biến văn hóa là quy luật của cả thế giới , và ngay cả các vùng miền trong một nước cũng có quá trình này .Do đặc điểm địa lý Việt Nam ta nằm ở vị trí giao thoa giữ hai nền văn hóa lớn nhất nhì thế giới là Trung Hoa và Ấn Độ .Điều này lý giải văn hóa của chúng ta có ảnh hưởng từ hai nền văn hóa trên là tất yếu về mặt triết học Một thành tựu văn hóa đồ sộ như Thánh Địa Mỹ Sơn vùng nam trung bộ mang dấu ấn văn hóa Ấn Độ , di sản văn hóa đại diện của nhân loại là minh chứng sinh động cho quá trình này .Đối với Việt Nam là một nước nhỏ cạnh một nước lớn gấp nhiều lần như Trung Quốc, bị chúng đô hộ hơn một nghìn năm đây là một thảm họa cho bản sắc văn hóa của chúng ta .Là kẻ đi xâm lược và nô dịch nước khác ,chúng ,đã không từ một thủ đoạn nào để xóa sạch dấu vết văn hóa người Việt , đồng thời chúng cũng tìm mọi cách truyền bá văn hóa của chúng sang đất nước ta .Ngay cả chữ viết có nhiều giả thiết từ thời Hùng Vương chúng ta đã có nhưng đã bị chúng triệt tiêu .Ngay cả các tư liệu lịch sử chúng cũng chủ trương xóa hết , nếu có gì còn qua lăng kính của kẻ xâm lược chúng viết cũng là méo mó và mất tính khách quan .Phần lớn các bộ sử của Việt Nam ta được viết vào bắt đầu từ thời Đinh, Lý, Trần ,Lê khi ta đã giành được độc lập .Tư liệu thời Hùng Vương , và 1000 năm đô hộ chủ yếu phải dựa vào sửTàu , và ký ức truyền khẩu nhiều đời nên tính xác thực cũng có nhiều điều không chắc chắn .Ngay cả đến đầu thế kỷ 15 quân Minh sang xâm lược và đô hộ nước ta khoảng 20 năm chúng lại một lần nữa hủy diệt hết văn hóa của chúng ta .Mặt khác là một nước nhỏ trong chế độ phong kiến như Việt Nam, điều kiện giao thương ngày xưa cách trở , thế giới trong con mắt với người Việt cho đến thế kỷ 15, 16 chỉ có Trung Hoa là phổ biến .Nhìn nhận như vậy để chúng ta thấy rằng cha ông ta , dân tộc ta là một số ít so với các dân tộc trên thế giới bị nước ngoài nô dịch đến hàng ngàn năm vẫn kiên cường bất khuất tồn tại và phát triển rực rỡ như ngày nay .Một bản sắc quan trọng bậc nhất là tiếng nói sau mấy nghìn năm chúng ta vẫn bảo tồn và kết nối được tiếng nói riêng của mình mà chúng không xóa được .Điều này được nhiều học giả trên thế giới đánh giá là một hiện tượng vô cùng đặc biệt , một sức sống trường tồn mạnh mẽ bản sắc của dân tộc Việt Nam .Nhiều dân tộc trên thế giới chỉ bị các nước lớn nô dịch vài trăm năm không chỉ mất văn hóa mà mất luôn cả tiếng nói .Chúng ta chấp nhận mất chữ viết , nhưng chúng ta không ngồi yên , ngay từ thế kỷ 10 cha ông ta đã manh nha sáng tạo ra một loại chữ riêng cho mình là chữ Nôm song hành cùng chữ Hán gần nghìn năm .Tuy chữ Nôm vẫn phải dựa vào chữ Hán nhưng cũng nói lên sự sáng tạo vươn lên không chịu sự áp đặt của kẻ mạnh .Nhìn rộng ra ở châu Á hiện nay vẫn còn một số nước chịu ảnh hưởng kiểu chữ tượng hình của Trung Quốc như Nhật Bản , Hàn Quốc .Việt Nam ta với đặc tính mềm dẻo , linh hoạt nhưng cũng rất kiên cường .Trong văn hóa chúng ta sẵn sàng tiếp nhận những luồng văn hóa từ nơi khác đến , chọn lọc , đồng hóa nó cho phù hợp với khẩu vị , đặc điểm của người Việt .Không định kiến

văn hóa đó đến từ đâu , miễn là nó hay , nó phù hợp với tâm tư tình cảm của con người Việt Nam .Nó tiện dụng phù hợp với thời đại như trường hợp chúng ta chấp nhận chữ quốc ngữ do các nhà truyền đạo Phương tây sáng tạo truyền vào .Cùng với chữ quốc ngữ , nghệ thuật Tuồng dù chưa ngã ngũ nguồn gốc từ đâu nhưng đây là hai thành tựu văn hóa có nhiều đóng góp cho đời sống tinh thần ,công cụ giao tiếp , truyền tải các giá trị văn hóa , đạo lý , ý trí vươn lên của con người Việt Nam. Ở góc nhìn khác nó khẳng định khả năng dung nạp tiếp biến ,thích nghi ,để phát triển trường tồn trong mọi hoàn cảnh lịch sử của dân tộc ta .