Tìm hiểu nghệ thuật tuồng

III. Nghệ thuật Tuồng trong cuộc sống hiện đại
Hiện nay nhiều ý kiến cho rằng nghệ thuật Tuồng dần đi xuống dốc và ít được người xem hưởng ứng nhiệt tình.
Kể từ khi triều đại nhà Nguyễn cáo chung (1945), rồi tiếp đến là những biến động về lịch sử xã hội, chiến tranh, đất nước chia cắt... đã ảnh hưởng đến sự phát triển của đất nước trên mọi phương diện. Các bộ môn nghệ thuật truyền thống, trong đó có nghệ thuật tuồng đã mất dần chổ đứng của mình, nhất là sau khi các loại hình nghệ thuật mới ở phương tây bắt đầu du nhập vào Việt Nam, chúng đã được lớp trẻ, lớp người mới đón tiếp một cách nồng nhiệt. Cùng với nhịp sống văn minh đô thị, các loại hình nghệ thuật mới đã nhanh chóng phát triển và lan toả về tận nông thôn, nơi mà trước đây người dân chỉ biết thưởng thức các loại hình nghệ thuật truyền thống, đặc biệt là nghệ thuật tuồng, thì giờ đây một bộ phận khán giả trẻ đã bắt đầu quay lưng dần với bộ môn nghệ thuật này. Còn lớp người già khi hồi tưởng lại những đêm thâu đi xem hát bội (tuồng) thì dường như vẫn còn háo hức, họ vẫn còn thuộc nằm lòng tên tuổi của các đào kép nổi tiếng với những vai diễn đã từng làm họ say sưa cùng với tiếng trống chầu ngày nào bên sân đình.
Với tinh thần bảo tồn di sản văn hoá dân tộc, gìn giữ tinh hoa vốn cổ của ông cha, đặc biệt là đối với bộ môn nghệ thuật truyền thống đã gắn liền với dân tộc qua bao thế kỷ. Trước đây, ngay khi đất nước còn chia cắt, chính phủ của hai miền đã có những nỗ lực không ngừng nhằm bảo tồn và khôi phục bộ môn nghệ thuật truyền thống này, thế nhưng chiến tranh kéo dài hàng chục năm không những làm cản trở công việc của các nhà chức trách mà còn tạo cho bộ môn nghệ thuật tuồng mai một nhanh chóng hơn. Mặc dầu vậy, ở miền Bắc, nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã nhanh chóng tập hợp các văn nghệ sĩ, diễn viên từ miền Nam tập kết ra Bắc, thành lập đoàn tuồng Liên khu năm, tổ chức ban nghiên cứu sân khấu với mục đích sưu tầm, nghiên cứu nhằm bảo tồn, khai tác vốn cổ. Đến năm 1959 với sự khởi xướng của GS Hoàng Châu Ký, đoàn tuồng Bắc cũng được thành lập với sự góp mặt của các nghệ sĩ tuồng nổi tiếng ở miền Bắc như Quang Tốn, Bạch Trà cùng với sự tham gia của các nghệ sĩ tên tuổi ở miền Trung như: Lê Bá Tùng, Nguyễn Hoàng Tốn (Nghệ An), Đoàn Thị Ngà (Huế)...các tác giả: Tống Phước Phổ, Hoàng Châu Ký (Quảng Nam), Mịch Quang (Bình Định)... đoàn đã dàn dựng một số vở tuồng cổ như Sơn Hậu, Nữ tướng Đào Tam Xuân, Triệu Đình Long cứu chúa...Còn ở miền Nam ngoài sự tồn tại và hoạt động biểu diễn thường xuyên của các đoàn tuồng ở các địa phương - đặc biệt là ở miền Trung, nơi được mệnh danh là cái nôi của tuồng; năm 1971 Phủ Quốc vụ khanh đặc trách Văn hoá đã cho phiên dịch và xuất bản một số kịch bản tuồng cổ (có in kèm phần chụp nguyên bản bằng chữ Nôm) như: Sơn Hậu diễn truyện, Trần trá hôn diễn ca, Đinh lưu tú diễn ca. Nguyên bản chữ Nôm của vở tuồng Sơn Hậu được chép tay, còn nguyên bản chữ Nôm của hai vở Trần trá hôn, Đinh Lưu Tú được khắc in tại Trung Quốc vào thời vua Quang Tự (Đinh Lưu Tú khắc năm 1894, Trần trá hôn khắc năm 1908). Trước đó, nhà sách Khai Trí ở Sài Gòn đã từng in một số các vở tuồng cổ như: Tuồng Tuý Kiều (Lãm Tuý Hiên truyện), Kim Thạch Kỳ Duyên... nhưng không có phần nguyên bản bằng chữ Nôm. Sau ngày thống nhất đất nước, nghệ thuật tuồng truyền thống ở các địa phương tiếp tục được khôi phục, đặc biệt là tuồng cung đình Huế. Về kịch bản tuồng, ngoài Tổng tập Văn học Việt Nam (tập 15 a) do GS Hoàng Châu Ký chủ biên có in một số kịch bản tuồng và vở Kim Thạch Kỳ Duyên của Bùi Hữu Nghĩa (do Nguyễn Q Thắng đứng in) thì vẫn chưa thấy một công trình tuồng cổ nào được xuất bản.
Hiện nay, nghệ thuật tuồng truyền thống của Việt Nam đang gặp nhiều khó khăn trong việc phục hồi và phát triển, nhưng chính phủ và các ngành hữu quan ở Việt Nam đang có những nỗ lực nhằm bảo tồn và phát huy bộ môn nghệ thuật truyền thống này trên tinh thần giữ gìn bản sắc Văn hóa dân tộc, giữ gìn những cái hay cái đẹp do cha ông để lại.
Nghệ thuật Tuồng - một loại hình sân khấu độc đáo của Việt Nam ẩn chứa những giá trị văn hoá, tinh thần của dân tộc, những giá trị nghệ thuật mang tính chất bền vững, đã, đang và sẽ còn là những người bạn tri âm, tri kỷ của các tầng lớp nhân dân Việt Nam.
 
PHỤ LỤC
Đặc điểm hoá trang mặt nạ trong nghệ thuật Tuồng
 
Nghệ thuật Tuồng, với cách hoá trang tạo diện mạo cho nhân vật, không có gì là tả chân, mà hoàn toàn tượng trưng. Người diễn viên, ngoài khả năng ca xướng, vũ đạo, diễn xuất, còn phải biết vẽ mặt mình, khi thủ bất cứ vai nào. Phẩm liệu hoá trang gồm có son, phấn, lọ, ngân (một loại bột màu đỏ pha vàng), bột màu xanh, vàng, với các dụng cụ tăm, móng (bằng ngón tay cái móc sâu vào như một cái muỗng, đầu kia bào dẹp như mái dầm, dùng để trát phấn, ngân làm nền da mặt và vẽ các nét lọ), cùng một số cọ nhỏ, hoặc bút lông. Bằng cả hai bàn tay điêu luyện, người diễn viên sử dụng các dụng cụ hết sức khéo léo để tạo những đường nét sắc sảo trên mặt mình, như những hoạ sĩ tài ba. Nhờ những gương mặt được hoá trang, khán giả biết ngay tâm lý, tính cách, giai cấp xã hội của nhân vật, khi mới vừa thấy diễn viên bước ra sân khấu.
Trước tiên là màu nền da mặt, nói lên các tính khí, tính chất xã hội, sắc thái tâm lý của nhân vật.
Màu đỏ son hay đỏ ngân: người anh hùng, trung trinh tiết liệt (Quan Công, Cao Hoài Đức, Địch Thanh...).
Màu trắng mốc: kẻ gian thần dua nịnh (Bàng Hồng, Đổng Trác, Tào Tháo...).
Màu đen: người chất phác, bộc trực, nóng nảy, nhưng ngay thẳng và chân thực (Trương Phi, Trịnh Ân, Uất Trì Cung...).
Màu xám dợt: người tuổi tác, kẻ bần dân (lão chài, lão tiều...).
Màu xanh: người mưu mô xảo quyệt, lũ yêu ma (Ngô Tôn Quyền, Cáp Tô Văn...).
Màu xanh chàm: tướng núi, người miền biển (Vương Bá Đường, Đơn Hùng Tín...).
Vẽ vòng quanh mắt cũng có nhiều loại:
Mắt tròng xéo: kép võ còn trẻ (con nhà tướng).
Tròng trứng: võ tướng.
Tròng táo: tướng đứng tuổi.
Tròng lõa: lão tướng.
Mặt vẽ nhiều nét rằn ri: gười hung ác, tướng cướp, yêu đạo.
Trên trán có vẽ thêm 1 con mắt: người có huệ nhãn, nhìn xa biết rộng, thông thiên đạt địa (Thái sư Vân Trọng).
Trên trán vẽ vòng tròn trắng đỏ chia đôi là âm dương (nhật nguyệt): người sáng suốt, thông giao trời đất, soi rọi những oan ức của mọi người (Bao Công).
Ngoài ra, các nhân vật nguyên là cầm thú thành người, nét mặt vẽ theo nét cầm thú: mặt khỉ (Tôn Ngộ Không, Hầu Ân), mặt rùa (các Tả đạo bàng môn) mặt chim (Lý Nguyên Bá, Tiết Quỳ...) Chân mày cũng mang tính cách nhân vật...
Mày tằm, lưỡi mác: Khách trượng phu, người anh hùng.
Mày đoản (ngắn, gãy khúc): kẻ gian xảo, trí trá.
Mày rô: kẻ nịnh thần.
Mày lửa (có viền đỏ): người nóng tính.
Hàm râu cũng có đặc tính: Râu ba chòm, năm chòm (đen, bạc) dài, suôn đuột: người đôn hậu, trầm tĩnh, quí phái.
Râu đen xoắn: người nóng tính, dữ dằn. Râu cắt (đen, đỏ): người có tính khôi hài, dễ dãi, hay đùa cợt.
Râu liên tu đen: kẻ gian nịnh. Râu liên tu bạc: lão tướng anh hùng.
Râu liên tu đỏ: tướng phản phúc, yêu đạo, phù thuỷ.
Râu ngắn, ba chòm (bạc, đen): người dân thường, lão chài, lão tiều...
Râu chuột (ngực ngoắt khi nói chuyện): kẻ liếng thoắng, người bộp chộp.
Râu dê, râu vẽ: các vai hề giễu, những tay học trò dốt đi thi, công tử ve gái.
Bấy nhiêu điều ghi nhận trên đầy đủ cho người xem có một khái niệm tổng quát về các nhân vật hát bội để phân biệt người tốt, kẻ xấu, ai trung ai nịnh, đứa ác, người hiền, khi đi xem sân khấu hát Tuồng.