Nhã nhạc Cung đình Huế

Nhã nhạc cung đình Huế là thể loại nhạc của cung đình thời phong kiến, được biểu diễn vào các dịp lễ hội (vua đăng quang, băng hà, các lễ hội tôn nghiêm khác) trong năm của các triều đại nhà Nguyễn của Việt Nam. Nhã nhạc cung đình Huế đã được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại vào năm 2003.

Theo đánh giá của UNESCO, "trong các thể loại nhạc cổ truyền ở Việt Nam, chỉ có Nhã nhạc đạt tới tầm vóc quốc gia" [1]. "Nhã nhạc đã được phát triển từ thế kỷ 13 ở Việt Nam đến thời nhà nhà Nguyễn thì Nhã nhạc cung đình Huế đạt độ chín muồi và hoàn chỉnh nhất" [2]. Cùng với không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên, đây là di sản phi vật thể của Việt Nam đã được UNESCO chính thức công nhận. Nhã nhạc Cung Đình Huế là một sự kế thừa,kể từ khi những dàn nhạc - trong đó có mặt nhiều nhạc khí cung đình - xuất hiện dưới dạng tác phẩm chạm nổi trên các bệ đá kê cột chùa thời Lý, thế kỉ XI-XII, đến lúc ông vua cuối cùng triều Nguyễn thoái vị vào giữa tk. XX.

Thế kỉ X - Thế kỉ
Thời vua Lê Đại Hành (trị vì 980 - 1005 )

982 Vua xâm nhập lãnh thổ Chămpa, chiếm kinh đô Indrapura rồi đưa về Hoa Lư 100 " cung kỹ " ( ca nhi, vũ nữ ) Chăm. Kể từ ấy ảnh hưởng Chăm bắt đầu thâm nhập âm nhạc cung đình Việt. ( Tham khảo Toàn thư, Cương mục, Hội điển ... )

Thế kỉ XI - XII : Đời Lý, triều đại quân chủ đầu tiên của Việt Nam
Trên nhiều bệ đá kê các cột chùa Vạn phúc ( còn gọi là chùa Phật Tích, ở làng Phật Tích, vùng Kinh Bắc - Bắc Ninh ) thấy chạm nổi một dàn nhạc 10 người chơi 8 nhạc khí : thổi tiêu, địch ( ống sáo ), đánh phách, trống cơm, kéo nhị, gảy đàn tam, tỳ bà, đàn cầm. Như vậy dàn nhạc có 4 nhạc khí dây, 2 nhạc khí thổi, 2 nhạc khí gõ là những nhạc khí hoặc thuần Việt hoặc gốc gác từ Ấn Độ, Chămpa, Trung Quốc. ( Phát hiện khảo cổ học tại chỗ của Louis Bezacier năm 1940, nghiên cứu nhạc học của Trần Văn Khê cuối thập kỷ 50 ). Thời vua Lý Thái Tông ( 1028 - 1054 )

1044 Vua đánh Chămpa, chiếm thành Phật Thệ, đưa về Thăng Long nhiều cung nữ Chăm giỏi hát múa khúc điệu Tây Thiên ( khúc hát, điệu múa Chăm gốc gác từ Ấn Độ )

Thời vua Lý Thánh Tông ( 1054 - 1072 )
1060 Là người giỏi văn, thích nhạc, vua đích thân phiên dịch một khúc nhạc Chămpa, ghi chép một điệu trống Chămpa ( đất nước có một nền mỹ thuật, âm nhạc và vũ đạo phát triển lâu đời dưới ảnh hưởng văn minh Ấn Độ ) rồi sai nhạc công ập luyện, biểu diễn.

1069 Vua đánh Chămpa, bắt được vua Chăm Chế Củ và dân chúng 5 vạn người. Chế Củ buộc lòng nộp 3 châu Bố Chánh, Địa Lý, Ma Linh ( Quảng Bình, bắc Quảng Trị ) để chuộc lại tự do. Cuộc Nam tiến của người Việt bắt đầu.

Thời vua Lý Nhân Tông ( 1066 - 1128 )
Dựa trên sử cổ, văn bia, nhà sử học - văn hóa học Trần Quốc Vượng đã " Phác họa chân dung nhạc sĩ Lý Nhân Tông ( 1066 - 1128 ) " : Đặc biệt giỏi về âm luật, vua đích thân sáng tác những bài ca, khúc nhạc cho nhạc công cung đình tập luyện. Văn bia chùa Đọi viết : " Vua ta tứ thơ thâu tóm thiên biến vạn hóa của Đất Trời, nhạc phổ hòa hợp âm thanh của Đường, Phạn " ( Trung Hoa, Chămpa, Ấn Độ ). Hiểu biết đến nơi đến chốn nhạc Đại Việt, Chămpa, Trung Quốc, vua đã sáng tác những khúc điệu mới tân kỳ như khúc nhạc " Tiên cưỡi mây xuống trần " véo von tiếng hát cung đàn ngợi ca công lớn của tiên vương " ( dẫn trong Văn hóa Việt Nam, Tìm tòi và Suy ngẫm - 2000 )

Thời vua Lý Cao Tông ( 1176 - 1204 )
1202 Vua sai nhạc sĩ cung đình đặt ra khúc nhạc gọi là Khúc nhạc Chăm (" Chiêm Thành âm ") tiếng trong trẻo, ai oán, não nùng, người nghe phải rỏ nước mắt.

Thế kỉ XIII - XIV : Đời Trần
1306 Công chúa Trần Huyền Trân, em vua Trần Anh ông sánh duyên với vua Chămpa Chế Mân và sính lễ là hai Châu Ô, và Ri ( Nam Quảng Trị, Thừa Thiên, một phần bắc Quảng Nam ) tặng về cho Đại Việt. Nhân dân Đại Việt và Chămpa xích lại gần nhau hơn.

1307 Lê Tắc trong An Nam chí lược cho biết : Nhạc cung đình đời Trần có Đại nhạc, trong dân gian có Tiểu nhạc với tổng cộng 12 loại nhạc khí : đàn gáo, đàn cầm, thất huyền, tỳ bà, tranh, tam, kèn tất lật, sáo( tiêu ), địch ( sáo ngang ), phách, tiểu bạt và trống cơm mà Lê Tắc nói rõ là có gốc gác Chăm.

Các vua Lý, Trần đều ưa thích nhạc Chăm, múa Chăm. Qua nhiều trăm năm tiếp biến văn hóa Đại Việt - Chămpa, nhạc cung đình Việt " đã nhuộm màu chàm " (Trần Văn Khê ).

Đầu thế kỉ XV - đầu thế kỉ XVI : Đời Lê sơ
( từ Lê Thái Tổ đến thời Hồng Đức )

Lê Thái Tổ ( Lê Lợi, 1428 - 1433 ) giao cho Nguyễn Trãi định ra qui chế triều phục và nhã nhạc. Chưa kịp triển khai thì vua mất.

Lê Thái Tông ( 1434 - 1442 ) lại giao việc đó cho Nguyễn Trãi và quan hoạn Lương Đăng. Vì trình độ tầm thường và tinh thần vọng ngoại của người này, Nguyễn Trãi xin trả lại công việc được giao. Vua ưng thuận và sau đó nghe theo ý kiến của Lương Đăng bất chấp sự phản đối của Nguyễn Trãi và bốn đại thần khác.

1437 Lương Đăng trình vua hai loại nhạc cung đình mới sao chép theo qui chế nhã nhạc triều Minh :

1 - Nhạc ở trên điện vua ( Đường thượng chi nhạc )

2 - Nhạc ở dưới điện vua ( Đường hạ chi nhạc )

Nguyễn Trãi phản đối sự sao chép, tiếp thu thụ động nhạc nước ngoài và đưa ra một quan niệm nhân văn chủ nghĩa cao quí về âm nhạc : " ( ... ) Đời loạn dùng võ, thời bình chuộng văn ( ... ) Hòa bình là gốc của nhạc, thanh âm là văn của nhạc ( ... ) Xin bệ hạ yêu nuôi muôn dân để chốn xóm thôn không còn tiếng oán hận buồn than. Như thế mới không mất cái gốc của nhạc " (Toàn thư) . Vua khen ngợi ý kiến của Nguyễn Trãi, nhưng việc Lương Đăng làm là việc đã rồi. Năm năm sau đó cả nhà Nguyễn Trãi bị kết án tru di tam tộc ( 19.9.1442 ) !

1470 Lương Thế Vinh ( tác giả Hí phường phả lục ), Thân Nhân Trung và Đỗ Nhuận lại tham khảo nhã nhạc triều Minh và trình với Lê Thánh Tông ( 1460 - 1497 ) - người đã chính thức tẩy oan cho Nguyễn Trãi ( 1464 ) -, hai tổ chức nhạc cung đình mới : Đồng văn ( khí nhạc ) và Nhã nhạc ( thanh nhạc ). Chung qui, sau nhiều lần tham khảo nhã nhạc triều Minh, nhạc cung đình thời Lê ( tk. XV - cuối tk. XVIII ) gồm 8 loại : nhạc tế Giao, nhạc tế Miếu, nhạc tế Ngũ tự ( năm vị thần ), nhạc cứu Mặt trời, Mặt trăng ( khi có Nhật thực, Nguyệt thực ) Nhạc đại triều, Nhạc thường triều, Nhạc cử 9 lần khi đại yến, Nhạc dùng trong cung. Từ khi chịu ảnh hưởng Trung Hoa, nhạc cung đình Việt ( được tôn là " nhã nhạc " ) đối lập với nhạc dân gian lâu đời ( bấy giờ bị gọi là " tục nhạc ", thậm chí là " dâm nhạc " ), bị cấm không được biểu diễn trong triều đình nữa. Sử cổ ghi : " Bãi bỏ các trò chèo hát " ( trước mặt vua quan ).

Thế kỉ XVI - XVII - XVIII : thời Mạc, Lê Trung hưng, Trịnh, và Lê mạt ở Thăng Long và Đàng Ngoài ( lãnh thổ phía bắc sông Gianh )

Bên cạnh Đại Việt sử ký Toàn thư ( XV - XVII ), Lê triều hội điển ( XVII - XVIII ), tài liệu phong phú nhất về âm nhạc Đại Việt ( Đàng Ngoài ) thời kỳ bày là những ghi chép quí báu của Phạm Đình Hổ trong Vũ Trung Tùy Bút và của Lê Quí Đôn trong Kiến văn tiểu lục và Vân đài loại ngữ.

Ở ba thế kỉ sau thời Lê sơ, ngoài các loại nhạc cung đình kể trên còn có thêm Nhạc huyền, Xúy nhạc, Quân nhạc, Nhạc Bả lệnh ( dùng trong phủ chúa Trịnh ), nhạc Giáo phường ( vừa dùng trong dân gian, vừa được đưa trở lại cung đình khi nhạc cung đình suy thái ).

Ba thế kỉ ấy cũng là thời nội chiến Mạc - Lê, Trịnh - Nguyễn liên miên, phân tranh Bắc - Nam kéo dài, chúa tiếm quyền vua, xã hội loạn lạc, lầm than; hậu quả là nhạc cung đình Đàng Ngoài ngưng đọng và dần dần đình đốn.

Thế kỉ XVII - XVIII ở Phú Xuân và Đàng Trong : thời các chúa Nguyễn
( 1558 - 1777 )

Từ những năm 30 của thế kỉ XVII, nhà văn hóa lớn Đào Duy Từ ( tác giả của Hổ trướng khu cơ, Tư Dung vãn, Ngọa Long cương vãn, của hai lũy Trường Dục và lũy Nhật Lệ ( Lũy Thầy ), tương truyền là tác giả của một số bài hát, điệu múa và vở hát bội cung đình thời các chúa Nguyễn, ông tổ lớn nhất của âm nhạc Huế và hát bội Huế được thờ tại nhà thờ Thanh Bình ở Huế ( 1572 - 1634 ) đã tiếp thu nhạc Đàng Ngoài, và đã giúp chúa Nguyễn Phúc Nguyên ( 1623 - 1634 ) lập ra một hệ thống lễ nhạc, triều nhạc mới. Hòa thanh thự của các chúa là tổ chức âm nhạc cung đình lớn của Đàng Trong gồm ban nhạc, đội ca, đội múa đông đảo ( Đại Nam thực lục tiên biên ). Cuối thế kỉ XVII - đầu thế kỉ XVIII, nhạc cung đình Đàng Trong đã khá hoàn chỉnh, phong phú, hấp dẫn, theo những ghi chép và đánh giá của nhà sư Trung Quốc Thích Đại Sán, thượng khách của chúa Nguyễn Phúc Chu ( 1692 - 1725 ) sau chuyến đi thăm Đàng Trong và Phú Xuân của ông. Được mời xem ca múa nhạc và hát bội tại phủ chúa, nhà sư cho biết điệu múa nổi tiếng thời đó là điệu múa Thái liên diễn tả dáng dấp đài các, trang nhã, tình tứ của các cô " tiểu hầu " của đô thành Phú Xuân vừa chèo thuyền vừa tươi cười hái sen. Các ca nhi vũ nữ ấy " đội mão vàng, áo hoa xanh dài phết đất, thoa son dồi phấn rất mực diễm lệ, làm nao lòng người xem " ( hồi ký Hải ngoại kỷ sự, bản dịch, 1963 ).