Đôi nét làn điệu và bài bản nghệ thuật hát tuồng

Nghệ thuật Tuồng là một bộ môn nghệ thuật tổng hợp gồm nhiều yếu tố tạo thành như: Hát (ca), múa, âm nhạc, mỹ thuật, phục trang, âm thanh, ánh sáng….trong đó hát Tuồng chiếm một vị trí vô cùng quan trọng, người xưa nói: “Nhất thanh, nhì sắc”. Người diễn viên phải thành thạo hát và múa mới làm nghề được.

Hát Tuồng với các cách nói lối, bài bản và làn điệu được hình thành từ những giai điệu trong tế lễ và hát xướng dân gian. Nói lối Tuồng dựa theo văn biền ngẫu từ 4 đến 8 chữ. Có nhiều cách nói lối khác nhau, mỗi loại đều có cách ngắt chữ, nhả chữ riêng, bài bản là theo nhịp phách còn làn điệu là hát có nhạc đệm riêng biệt.
Trong nghệ thuật Tuồng có nhiều làn điệu như hát Nam, Khách, Tẩu, Thán, Oán, Vịnh, Xướng, Ngâm…mỗi làn điệu lại chia ra nhiều loại khác nhau. Bài bản làn điệu được hát theo nhiều thể thơ lục bát tứ tuyệt, thất ngôn, ngũ ngôn, song thất lục bát.
Ở đây chúng tôi chỉ xin giới thiệu đôi nét những bài bản và làn điệu thường sử dụng:
1. Hát Nam: Có Nam ai, nam bình, nam xuân, nam tẩu ai, nam tẩu xuân. Thường sử dụng vào các vai Đào thương, kép, lão…
2. Hát Khách: Có khách thơ, khách phú, khách tử. Sử dụng trong tất cả các loại vai.
3. Hát Thán: Có Thán bắc, thán xốc, thán lảng. Sử dụng cho những vai diễn lột tả tâm trạng đau đớn mất mát, hy sinh…
4. Nhịp: Có nhịp 1, nhịp đôi, nhịp ba (có nhịp 3 đề cờ, nhịp 3 ngược). Nhịp 4 (nhịp bản trong nhịp bản có nhịp bản ai, nhịp bản xuân).
Trong sâu khấu Tuồng rất nhiều vai diễn sử dụng hát các loại nhịp trên.


Ngoài những làn điệu trên còn một số làn điệu đôi khi cũng hay sử dụng như hát tẩu, bạch, vịnh, ngâm xướng…
Bài viết sau chúng tôi sẽ giới thiệu kỹ hơn các làn điệu hát được sử dụng vào các vai diễn như thế nào?


NSND GIA KHOẢN